Tắc mạch ối (Amniotic Fluid Embolism) | Bệnh Học

Tắc mạch ối (Amniotic Fluid Embolism) là một cấp cứu sản khoa rất hiếm gặp, khi nước ối, tế bào thai nhi, bọt khí, chất gây, tóc hoặc các mảnh tổ chức thai khác lọt vào hệ tuần hoàn của mẹ, gây ra suy hô hấp và tuần hoàn cấp tính.

Hội chứng này được Meyer mô tả lần đầu năm 1926, tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng chỉ gây chú ý cho các nhà sản khoa tới tận năm 1941.

Lần đầu tiên, một xem xét hồi cứu kỹ lưỡng các trường hợp này được thực hiện bởi Morgan năm 1979. Kể từ đó, hệ thống đăng kiểm quốc gia cho bệnh lý này ra đời tại Mỹ.

Bệnh lý này xuất hiện với tần suất rất thấp, khoảng 1 trường hợp trong 8000 - 30000 thai nghén.

Tần suất rất dao động tùy thuộc vào độ chính xác của các báo cáo, cũng như độ tin cậy của chẩn đoán.

Cả nước Anh chỉ có 3-4 trường hợp mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong của bệnh lý là rất cao, khoảng 80% các trường hợp mắc phải.

Vì số lượng các trường hợp thấp, cho đến nay, chưa có bằng chứng rõ ràng về các yếu tố gọi là nguy cơ.

Mặc dù trước đây, nhiều quan điểm cho rằng các bà mẹ nhiều tuổi, sinh nhiều lần, chuyển dạ nhanh một cách khác thường, thai to, hoặc sử dụng các thuốc tăng co tử cung, có liên quan tới tăng nguy cơ của bệnh lý này.

Nhìn chung tắc mạch ối thường xảy ra trong quá trình chuyển dạ, mổ đẻ chủ động, nhưng cũng có thể xảy ra khi nạo thai, truyền dịch ối vào buồng tử cung, hay chấn thương ổ bụng, hoặc thậm chí sau đẻ.

Tên của hội chứng là “tắc mạch ối” không phản ánh đúng bản chất của bệnh, mặc dầu sinh bệnh học là một quá trình phức tạp và có nhiều điểm chưa rõ ràng.

Các dữ liệu và nghiên cứu hiện tại cho rằng hội chứng này có bản chất là một quá trình “sốc phản vệ”, hơn là đơn thuần là một “tắc mạch”. Có lẽ nước ối và các tế bào thai nhi khi lọt vào hệ tuần hoàn đã kích thích phản ứng phản vệ của cơ thể mẹ với các kháng nguyên từ thai, không đơn thuần chỉ là tắc mạch máu.

Hiện tại, các giả thuyết chu trình bệnh lý đang được tiếp tục nghiên cứu với trọng tâm là sự phân rã nhân các tế bào khổng lồ để giải phóng các histamine và các men tryptase, đồng thời hoạt hoá một chuỗi phản ứng phụ phức tạp khác.

Tuy nhiên, có sự hiểu lầm phổ biến rằng sự xuất hiện của các tế bào thai như tế bào biểu bì họăc tế bào lá nuôi trong tuần hoàn máu mẹ (máu từ động mạch phổi) là dấu hiệu khẳng định chẩn đoán. Các dữ liệu cho thấy rằng các tế bào này thường xuyên tìm thấy trong tuần hoàn của máu mẹ trên cả những người không có bệnh lý này. Sự xuất hiện các tế bào này là một nghi vấn trong các trường hợp nghi ngờ, nhưng phải kết hợp với bệnh cảnh lâm sàng của rối loạn huyết động và hô hấp để khẳng định chẩn đoán.

Quá trình bệnh lý thường xảy ra theo 2 giai đoạn.

  • Giai đoạn 1:

    • Là sự co thắt của động mạch phổi, tăng áp lực động mạch phổi và tâm thất phải cấp tính gây giảm oxy huyết.
    • Giảm oxy huyết gây ra phá hủy các mao mạch cơ tim và mao mạch phổi, gây suy tim trái, và hội chứng suy hô hấp cấp.
    • Khoảng 50% trường hợp sống sót qua giai đoạn 1 (kéo dài khoảng 1 giờ), sẽ bước vào gđ 2.
  • Giai đoạn 2:

    • Là giai đoạn chảy máu đồng bộ và đông máu rải rác lòng mạch.
    • Bệnh cảnh lâm sàng xuất hiện rất nhanh với các dấu hiệu khó thở cấp tính, đôi khi ho, huyết áp hạ nhanh và đột ngột nhất là huyết áp tâm trương, tím tái quanh môi và các đầu chi, có thể ngừng tim, hoặc các dấu hiệu phù phổi cấp.
    • Về theo dõi sản khoa, nhịp tim thai chậm, chảy máu từ tử cung trong giai đoạn muộn.
    • Các xét nghiệm cận lâm sàng về khí máu cho thấy độ pH máu tăng, giảm phân áp oxy động mạch, tăng phân áp CO2, tăng dự trữ kiềm.
    • Các xét nghiệm về máu, tiểu cầu không có những thay đổi đặc hiệu: hemoglobin, hematocrit có thể ở mức bình thường. Tiểu cầu cũng chỉ hạ khi mất máu quá nhiều.
    • Các xét nghiệm đông máu cho thấy thời gian Prothrombin kéo dài vì tăng cường sử dụng các yếu tố đông máu, thời gian hoạt hoá thromboplastin bán phần có thể bình thường hoặc ngắn.
    • Các dấu hiệu X quang thì không đặc hiệu, trừ phi có các dấu hiệu phù phổi.

Việc chẩn đoán hội chứng này mang tính loại trừ. Cần chẩn đoán phân biệt với rất nhiều hội chứng khác: tắc mạch do huyết khối, tắc mạch khí, sốc nhiễm khuẩn, nhồi máu cơ tim cấp tính, sốc phản vệ do các nguyên nhân khác, rau bong non, hay phản ứng gây tê tại chỗ.

Việc điều trị mang tính hỗ trợ chứ không phải điều trị căn nguyên, và điều trị đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của cán bộ và kỹ thuật hồi sức, hơn là nhà sản khoa. Cần nhanh chóng đặt catheter động mạch để đo áp lực động mạch và khí máu, theo dõi áp lực rìa mao mạch phổi (PCWP), cung lượng tim, nồng độ oxy, áp lực trung tâm.

  • Có 4 nguyên tắc chính trong điều trị bao gồm:

    • tăng cường thông khí,
    • tăng cường oxy,
    • hỗ trợ tuần hoàn và
    • điều chỉnh rối loạn đông máu.
  • Các điều trị cụ thể bao gồm:

    • thở oxy nồng độ cao, đặt nội khí quản, hồi sức tim và hô hấp nhân tạo,
    • truyền dịch và các sản phẩm máu để tăng huyết áp
    • dùng các thuốc tăng áp (Dopamin), trợ cơ tim (Digoxin),
    • có thể dùng các thuốc corticosteroids,
    • điều trị rối loạn đông máu bằng huyết tương tươi đông lạnh, điều trị chống kết tủa nếu fibrinogen giảm thấp, truyền khối tiểu cầu.
    • Một số tác giả sử dụng yếu tố VIIa hoạt hoá.
    • Về phương diện sản khoa, nhiều tác giả đề nghị mổ đẻ ngay khi có thể, trước hết là để cứu thai nhi, sau đó để dễ dàng hơn tái lập cân bằng huyết động.
    • Khi mổ đẻ có thể thắt động mạch tử cung hai bên để cầm máu.

Những nghiên cứu ở thời điểm hiện tại trên bệnh lý này cho phép kết luận rằng tắc mạch ối là một biến chứng sản khoa nguy hiểm, tử vong cao, không thể đoán trước và không thể dự phòng.

Tuy nhiên, các nhà sản khoa cần hết sức cảnh giác, và có những điều trị tích cực khi xảy ra để có thể mang lại hy vọng sống sót cao hơn cho cả thai phụ và thai nhi.

Nguồn tham khảo: BS. Th.S Nguyễn Công Nghĩa